Me keo, còn được gọi là me nước cây gỗ có thể cao đến 10 m. Lá kèm biến đổi thành gai. Cuống lá chính dài 2-2,5 cm, mọc so le, phân thành hai cuống nhỏ dài 1 cm, mỗi cuống nhỏ mang hai lá chét, phiến lệch đến tù. Hoa nhỏ màu trắng mọc thành chùm ở đầu cành, gồm nhiều cụm hình đầu đường kính 0,8–1 cm. Quả dài 5–8 cm, rộng 1 cm, xoắn làm 2-3 lần cong queo thắt lại giữa các hạt. Hạt màu đen và bóng, nằm trong một lớp cơm quả.

Tìm hiểu chi tiết thông tin về cách chữa bệnh trĩ tại nhà bằng cây me keo

cây me keo

Nguồn sống và nơi thu hái:

Cây ở vùng nhiệt đới châu Mỹ, truyền vào Việt Nam, được trồng (thường trồng làm hàng rào) và trở thành hoang dại cả ở đồng bằng và miền núi. Trồng bằng hạt. Mùa hoa quả từ tháng 8 đến tháng 3 năm sau. Cơm quả (áo hạt) chín ăn được, có vị bùi và béo.

Cây me keo thân và cành đều có gai, có thể chống các loài động vật phá hoại, lá rụng cải tạo được đất, rễ có nhiều nốt sần chứa các vi khuẩn cộng sinh cố định đạm, cành ngắn, nhỏ, mang ít lá và lá nhỏ, chịu được gió bão… nên thường được trồng làm vành đai phòng hộ các khu vực sản xuất cây nông nghiệp, làm cây che bóng cho cây công nghiệp dài ngày, làm cây cải tạo đất…

Xem thêm bài thuốc >>>> Chữa bệnh trĩ nội 

Công dụng trong y học :
Lá me keo

lá me keo
Theo Y học cổ truyền ở Việt Nam, vỏ và rễ cây me nước đều có tác dụng hạ nhiệt. Người ta có thể thu hái lá, rễ quanh năm để làm thuốc. Rễ thái nhỏ, phơi khô, lá thường dùng tươi. Lá me nước được dùng trị bệnh đái đường. Rễ dùng trị bệnh sốt rét. Thường dùng dưới dạng thuốc sắc, mỗi ngày 10-20 g.

Ở Guyana, vỏ cây được sử dụng làm thuốc trị sốt. Ở Ấn Ðộ, nước sắc vỏ dùng làm thuốc thụt chống táo bón.

Trong y học dân gian của một số nước, nước sắc từ vỏ cây dùng chữa bệnh tiêu chảy; lá được dùng đắp ngoài da để chữa đau, trĩ rò ( dùng để rửa và xông ), tấy và bệnh hoa liễu; nước sắc từ lá cũng được sử dụng cho chứng khó tiêu; vỏ cây cũng được sử dụng như một nguồn dược liệu nhiều ta-nanh. Có lẽ vì có quá nhiều tác dụng như thế, vốn xuất thân từ châu Mỹ, dần dần me keo có mặt hầu khắp thế giới, nhất là vùng nhiệt đới châu Phi, châu Á.

Ở châu Á, cây phân bố ở Việt nam, Lào, Campuchia, Myanmar, Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia, Philippines.

Ở Việt Nam, cây được trồng phổ biến khắp nước, từ các tỉnh phía Bắc vào đến Nam bộ, từ đồng bằng lên vùng đồi núi, cao nguyên.

 

Theo tài liệu y học cổ truyền Việt Nam