Bệnh lý

Bệnh đau khớp là hậu quả của quá trình viêm khớp, thoái hóa khớp làm cho các sụn khớp bị ăn mòn. Bệnh nhân bị đau khớp sẽ cảm thấy đau nhức ở các khớp hay cử động như là ở khớp tay, khớp đầu gối, khớp vai…Đôi khi các khớp còn bị sưng, phát ra tiếng kêu, hạn chế khi vận động, nhất là vào buổi sáng. Vậy nguyên nhân nào gây đau khớp và cách phòng bệnh như thế nào?

Nguyên nhân

Nguyên nhân chính dẫn đến bệnh đau khớp là lớp sụn ở khớp xương bị thoái hóa và ăn mòn, thiếu chất nhờn ở các khớp xương, điều này tạo nên đau nhức khi cử động hoặc vận động.

1. Độ tuổi

Tuổi tác tỉ lệ thuận với nguy cơ mắc bệnh thấp khớp. Theo thống kê có khoảng ½ số người từ 65 tuổi mắc bệnh viêm khớp,t rong khi đó chỉ có 1 trong 250 trẻ em bị bệnh này.

2. Gien

Nếu gia đình có cha mẹ hoặc họ hàng bị bệnh thấp khớp thì nguy cơ mắc bệnh sẽ cao hơn. Các nhà khoa học đang tìm cách xác định loại gen nào tương ứng gây bệnh thấp khớp để tạo ra loại thuốc đặc trị cho các bệnh thấp khớp có nguồn gốc từ gien.

3. Giới tính

Các thống kê đã chỉ ra rằng nam giới có nguy cơ mắc bệnh gout cao hơn nữ giới, trong khi đó nữ giới lại dễ mắc bệnh viêm khớp hơn nam giới.

4. Hút thuốc

Các nghiên cứu đã xác nhận mối liên quan trực tiếp giữa hút thuốc và bệnh viêm khớp. Nếu bạn có cha mẹ hoặc họ hàng mắc bệnh viêm khớp thì nên ngừng hút thuốc ngay để giảm nguy cơ mắc bệnh.

Các nghiên cứu tại Thuỵ Điển đã chỉ ra rằng những người hút thuốc làm tăng 21% nguy cơ mắc viêm khớp.

5. Nghề nghiệp

Rất nhiều nghiên cứu được tiến hành để tìm ra mối liên quan giữa các dạng của bệnh thấp khớp và nghề nghiệp đã thấy rằng những người làm nghề sơn sửa móng tay chân, thợ sơn, thường xuyên sử dụng acetone và thuốc trừ sâu dễ mắc bệnh viêm khớp hơn.

Nghiên cứu gần đây tại Thuỵ Điển chỉ ra rằng những người thường xuyên tiếp xúc với các loại xăng dầu tăng 30% nguy cơ mắc bệnh thấp khớp.

6. Chế độ ăn

Cơ thể thừa cân và béo phì làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm khớp vì thế cần điều chỉnh cân nặng hợp lý.

Việc sử dụng thực phẩm giàu chất béo bão hoà, thiếu chất chống ôxy hóa, các vitamin và chất khoáng cần thiết làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

Triệu chứng thường gặp

Triệu chứng thường gặp nhất ở bệnh đau khớp, viêm khớp dạng thấp là viêm đa khớp, diễn biến kéo dài. Bệnh nhân không chỉ bị đau, sưng tấy các khớp tay, chân mà người bệnh còn bị viêm nhiều khớp khác trên cơ thể. Các khớp viêm bị sưng, nóng, đỏ, đau, khó cử động.

Tình trạng khớp bị cứng, khó cử động thể hiện rõ nhất vào sáng sớm và có thể kéo dài hàng giờ. Cùng với các triệu chứng tại khớp là hiện tượng toàn thân như sốt, mệt mỏi, người xanh xao, gầy sút.

Bệnh viêm khớp dạng thấp diễn biến theo từng đợt. Ở giai đoạn đầu, khi khớp mới bị sưng nóng nếu được phát hiện sớm và chữa trị tích cực, đúng cách, bệnh có thể diễn biến tốt. Nếu bệnh đã chuyển sang giai đoạn hai, xuất hiện tổn thương ở sụn khớp và đầu xương, người bệnh có nguy cơ bị biến dạng khớp, dính khớp, cứng khớp và mất khả năng vận động.

Một số yếu tố ảnh hưởng

Những người bị bệnh đau khớp, bệnh viêm khớp dạng thấp tuyệt đối không được ra ngoài khi trời lạnh kèm theo mưa phùn. Bởi những lúc trời lạnh, độ ẩm cao thì tình trạng bệnh càng nặng hơn.

Người bị bệnh đau khớp nên đi tất ấm và dùng áo đi mưa để tránh bị ướt. Nếu quần áo bị ẩm, cần thay ngay và lau khô người, chân tay. Còn với bà con nông dân, khi khớp bị những đợt sưng cấp tuyệt đối không được lội nước, lội bùn. Tốt nhất người nông dân khi làm ruộng nên đi ủng để chân vẫn luôn khô ráo”.

Viêm khớp dạng thấp là bệnh lý mãn tính, có thể gây những di chứng nặng nề như: dính, biến dạng khớp dẫn đến tàn phế. Ở Việt Nam, khoảng 0,3% – 0,5% dân số mắc bệnh, trong đó 80% là nữ giới ở độ tuổi từ 30 trở lên. Người bị viêm khớp dạng thấp phải được điều trị sớm để tránh tình trạng bị dính, biến dạng khớp dẫn đến tàn phế. Có rất nhiều loại thuốc trị bệnh trên thị trường nhưng người bệnh không được tự ý dùng thuốc vì có thể có những tác dụng phụ. Đặc biệt, những thuốc điều trị về thấp khớp rất dễ ảnh hưởng đến dạ dày.

Phương pháp điều trị

Khi bệnh nhân mới có các biểu hiện của bệnh VĐKDT các bác sĩ cũng khó chẩn đoán chính xác về phương diện lâm sàng nên thường kê đơn cho bệnh nhân các loại thuốc giảm đau. Các thứ thuốc này thì có rất nhiều chủng loại được bày bán trên thị trường. Có người còn được dùng loại thuốc kháng viêm có nhân steroid thường được gọi là các corticoid nên các triệu chứng sưng tấy, đau nhức giảm đi rất nhanh và thường ngộ nhận là đã khỏi bệnh. Thực ra thì bệnh chỉ tạm thoái lui chứ không khỏi hẳn rồi lại tái phát. Các cơn đau khớp lần sau sẽ có tần suất mau hơn và kéo dài hơn, các tổn thương ở đầu khớp cũng sẽ biểu hiện ngày càng rõ rệt hơn. Lúc này khi bệnh nhân đến khám bệnh sẽ được các bác sĩ cho chụp X. quang khớp và sẽ thấy các dấu hiệu mòn vẹt các sụn khớp, tổn thương các bao hoạt dịch là nơi chứa dịch khớp để làm nhiệm vụ bôi trơn khớp. Khi đã có các dấu hiệu tổn thương khớp thì vận động sẽ rất đau và bị hạn chế dần, cuối cùng dẫn đến tình trạng cứng khớp. Họ sẽ trở thành người tàn phế.

Các biện pháp điều trị nhằm tránh hoặc hạn chế thoái hóa khớp vẫn thường được dùng là tiêm các chất corticoid và ổ khớp cũng chỉ là các biện pháp tình thế chứ không giải quyết được triệt để. Gần đây, nhờ vào các tiến bộ về lĩnh vực di truyền học, các nhà khoa học đã phát minh ra một phương cách điều trị mới được gọi là niềm hy vọng cho những bệnh nhân mắc căn bệnh bất trị này. Họ đã lấy các tế bào tủy xương của chính bệnh nhân đem nuôi cấy vào các môi trường đặc biệt có đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết để cho chúng sinh sôi nảy nở thành một quần thể các tế bào rồi đem tiêm vào khớp của những bệnh nhân bị tàn phế do dính khớp. Kết quả đem lại thật bất ngờ, những bệnh nhân mà trước đây chỉ có thể di chuyển trên những chiếc xe đẩy thì nay đã có thể tự mình đi lại được, thậm chí có người đã đi bộ được đến 2 km. Các phòng thí nghiệm hiện đại cũng đã có dịch vụ xét nghiệm máu cho những người được gọi là có nguy cơ bị bệnh VĐKDT nếu như họ có bố hoặc mẹ hay anh chị em có mắc căn bệnh này. Và nếu như có kết quả xét nghiệm là dương tính thì có thể dùng liệu pháp gen để ngăn ngừa căn bệnh trước khi nó xảy ra.

Cách phòng bệnh hợp lý.

Thường xuyên vận động: Việc luyện tập không chỉ tốt cho hệ tim mạch mà còn tốt cho hệ xương, cơ và khớp.

Chế độ ăn uống hợp lý: Xương của bạn cần một lượng lớn dinh dưỡng để khỏe mạnh. Vì thế các thực phẩm giàu vitamin C và E, canxi sẽ hỗ trợ cho hệ khớp trong cơ thể không bị sớm suy thoái.

Căng duỗi: Căng duỗi khớp sẽ giúp cơ bắp được tăng cường và củng cố các khớp. Lưu ý là phải khởi động kỹ các khớp trước khi thực hiện bài tập căng duỗi nếu không sẽ có thể dẫn tới kết quả ngược.

Uống đủ nước: Nước chiếm 70% thành phần của sụn và duy trì sự trơn tru giữa 2 đầu xương. Cần uống nước đầy đủ, nhất là về mùa đông không nên ngại uống nước.

BÀI THUỐC CHỮA XƯƠNG KHỚP

Bài thuốc hiện được nghiên cứu, bào chế và  bởi Viện Nghiên cứu TPCN
Thành phần:
Cốt toái bổ, phòng phong, hy thiêm, thổ phuc linh, ngưu tất, xuyên quy, ngưu tất, đỗ trọng bắc, cẩu tích, xuyên khung, ý dĩ, quế thanh, kê huyết đằng,thiên niên kiện, bạch thược, cẩu tích, trạch tả, hoàng kỳ, cát căn, cam thảo…

Chủ trị: Thuốc có tác dụng điều trị và phòng ngừa các bệnh lý về khớp.

–         Bệnh khô khớp (khô dịch khớp), dính khớp.

–         Bệnh thoái hóa khớp (gối, cột sống, đốt sống cổ …)

–         Bệnh vôi hóa khớp (gối, cột sống …)

–         Viêm màng xương.

–         Bệnh thoát vị đĩa đệm

–         Bệnh viêm đa khớp dạng thấp.

Một số công dụng Vị thuốc

Thiên niên kiện: Là vị thuốc nhân dân dùng chữa tê thấp Tác dụng giảm đau bổ gân cốt , dùng trong bệnh người già bị đau người, đau xương khớp.

Cốt toái bổ: Có khả năng bổ thận trị đau xương, phá huyết ứ sát trùng giảm đau. Dùng chữa dập xương, đau xương, dập đau chân.

Kê huyết đằng: Có tác dụng ức chế viêm khớp thực nghiệm, bổ huyết, chỉ thống thanh nhiệt, giải độc, chữa thấp khớp chân tay tê mỏi

Đỗ trọng bắc: Có tác dụng chống viêm, chữa thấp khớp, suy giảm nội tiết, thận hư, liệt dương di mộng tinh, đau lung, mỏi gối

Bài thuốc hoàn toàn từ thảo dược, gồm nhiều vị thuốc quý  đã được tuyển chọn kỹ lưỡng ở những vùng thổ nhưỡng mà dược liệu đó có nhiều tinh chất nhất, cho hiệu quả chữa trị cao.

Những vị cứng, thô, sơ, rắn, thân thảo đều được sao, bào chế, chiết xuất bằng máy móc hiện đại. Sau đó được gia công nấu, chưng, cất, chiết xuất lấy hoạt chất, sấy khô, tiệt trùng. Tất cả đều được nấu thành cao mềm hoặc ở dạng bột tán mịn (không phải sắc) nên rất tiện lợi cho việc sử dụng thuốc.

Ưu điểm của bài thuốc:

Điều trị tận gốc bệnh (do điều trị từ căn nguyên của bệnh).

Hiệu quả lâu dài, tránh tái phát.

Không tác dụng phụ.

An toàn, không biến chứng (không ảnh hưởng đến dạ dày, thận).

Chi phí thấp.